Chọn một mục để chúng tôi hiển thị đúng thông tin bạn cần — thay vì bắt bạn đọc hết mọi thứ.
Trong sáu tháng nghỉ sinh, lao động nữ hưởng trợ cấp thai sản từ bảo hiểm xã hội bằng 100% bình quân lương đóng bảo hiểm, không phải lương công ty. Đi làm sớm sau 4 tháng thì nhận cả lương lẫn trợ cấp. Thời gian nghỉ vẫn được tính phép năm.
Trong thời gian nghỉ sinh, khoản 2 Điều 139 Bộ luật Lao động cho lao động nữ hưởng chế độ thai sản theo pháp luật bảo hiểm xã hội. Tiền này do bảo hiểm xã hội trả, mỗi tháng bằng 100% bình quân tiền lương đóng bảo hiểm của 06 tháng gần nhất. Người đi làm lại sớm, sau ít nhất 04 tháng nghỉ, được nhận cả lương những ngày làm việc lẫn trợ cấp thai sản. Thời gian nghỉ thai sản vẫn được coi là thời gian làm việc khi tính phép năm.
Người viết: Lien Tran - Đại lý AIA. Bài rà soát lần gần nhất ngày 14/09/2026.
Số chính thức bệnh viện công bố Nguồn: Bộ luật Lao động 2019, Điều 139 khoản 2, 3, 4; Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, Điều 59 khoản 1 và Điều 33 khoản 5. Đọc nguyên văn trên hethongphapluat.com ngày 02/10/2026.
| Câu hỏi | Luật quy định | Điều khoản |
|---|---|---|
| Nghỉ sinh có lương không? | Lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội | BLLĐ Điều 139 khoản 2 |
| Nhận bao nhiêu mỗi tháng? | 100% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của 06 tháng gần nhất | Luật BHXH Điều 59 khoản 1 |
| Đi làm lại sớm thì sao? | Sau ít nhất 04 tháng, phải báo trước, được công ty đồng ý và có xác nhận y tế; nhận lương ngày làm việc và vẫn hưởng trợ cấp thai sản | BLLĐ Điều 139 khoản 4 |
| Muốn nghỉ thêm sau 6 tháng? | Được nghỉ thêm không hưởng lương sau khi thoả thuận với công ty | BLLĐ Điều 139 khoản 3 |
| Có phải đóng bảo hiểm xã hội? | Tháng không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên thì người lao động không phải đóng, trừ khi hai bên thoả thuận đóng | Luật BHXH Điều 33 khoản 5 |
Nguồn thứ ba — chưa được bệnh viện xác nhận Nguồn: Nghị định 145/2020/NĐ-CP, Điều 65 khoản 7, theo trích dẫn của Thư viện Pháp luật (bài cập nhật 15/08/2023 và 24/08/2024). Chúng tôi chưa đọc bản gốc nghị định.
| Nội dung | Quy định |
|---|---|
| Thời gian được coi là thời gian làm việc để tính phép năm | Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội |
Một nhân viên văn phòng chuẩn bị nghỉ sinh thường hỏi công ty còn trả lương không. Khoản 2 Điều 139 Bộ luật Lao động trả lời bằng cách dẫn sang luật bảo hiểm xã hội. Khoản tiền nhận trong sáu tháng là trợ cấp thai sản do quỹ bảo hiểm xã hội chi, không phải tiền lương.
Khoản 1 Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 tính mỗi tháng bằng 100% bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của 06 tháng gần nhất. Lương thực nhận 15.000.000 đồng nhưng chỉ đóng bảo hiểm trên 8.000.000 đồng thì trợ cấp tính theo 8.000.000 đồng.
Khoản 4 Điều 139 cho lao động nữ trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất 04 tháng. Điều kiện là báo trước, được công ty đồng ý và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh rằng đi làm sớm không hại sức khoẻ. Khi đó, ngoài lương những ngày làm việc, người lao động vẫn tiếp tục hưởng trợ cấp thai sản.
Khoản 5 Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 miễn đóng cho tháng người lao động không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên. Hai bên vẫn có thể thoả thuận đóng tiếp, lấy căn cứ đóng bằng tháng gần nhất.
Điều 65 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, theo trích dẫn của Thư viện Pháp luật, coi thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản là thời gian làm việc để tính ngày nghỉ hằng năm. Sáu tháng nghỉ sinh vì vậy không làm giảm số ngày phép của năm đó.
Nhắn cho chúng tôi tình huống cụ thể. Chúng tôi đọc hợp đồng và điều khoản rồi trả lời thẳng, không chào bán trong buổi đầu.