BẢO HIỂM SỐtuvanbaohiemso.com
Đang xem nội dung dành cho:Đang xem:
Theo nhu cầu
Chuẩn bị sinh con · Thai sản Sức khoẻ & viện phí gia đình Bảo vệ thu nhập gia đình Đã có hợp đồng, kiểm tra lại
Theo nhóm sản phẩm
Bảo vệ cuộc sống Bảo vệ cuộc sống & tiết kiệm Chăm sóc sức khoẻ & nằm viện Bảo hiểm tai nạn Bảo hiểm thai sản rời Tất cả sản phẩm
Khác
Công cụ tính toán Kiến thức Về chúng tôi Liên hệ
Gọi hotline 0777 991 852 Nhắn Zalo

Tạm ứng từ giá trị hoàn lại tính lãi bao nhiêu?

Khoản 4 Điều 12 Thông tư 67/2023/TT-BTC chặn lãi suất tạm ứng ở mức lãi suất tích luỹ doanh nghiệp công bố cộng 2%, và nêu một mốc thay thế cho trường hợp doanh nghiệp không công bố.

Tóm tắt

Rút tạm một phần giá trị hoàn lại của hợp đồng nhân thọ thì bị tính lãi, và phần lãi đó có trần. Khoản 4 Điều 12 Thông tư 67/2023/TT-BTC chặn ở lãi suất tích luỹ do doanh nghiệp công bố cộng với 2%. Nếu doanh nghiệp không công bố lãi suất tích luỹ thì mốc chuyển sang lãi suất đầu tư của quỹ chủ hợp đồng không tham gia chia lãi trong năm tài chính liền kề trước đó, cộng 2%. Điểm c loại trừ hai nhóm sản phẩm: liên kết đầu tư và hưu trí.

Người viết: Lien Tran - Đại lý AIA. Bài rà soát lần gần nhất ngày 14/09/2026.

Số liệu — và mỗi con số lấy từ đâu

Toàn văn khoản 4 Điều 12, bốn đoạn

Số chính thức bệnh viện công bố  Nguồn: Thông tư 67/2023/TT-BTC ngày 02/11/2023 của Bộ Tài chính, khoản 4 Điều 12, trích nguyên văn.

ĐiểmNguyên văn
Câu mở đầu“Trường hợp quy tắc, điều kiện, điều khoản của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có quy định việc tạm ứng từ giá trị hoàn lại, việc tạm ứng từ giá trị hoàn lại phải đáp ứng các quy định sau”
a“Mức lãi suất tính cho phần tạm ứng từ giá trị hoàn lại không được vượt quá lãi suất tích lũy do doanh nghiệp bảo hiểm công bố cho khách hàng cộng với 2%. Trường hợp không công bố lãi suất tích lũy, mức lãi suất tạm ứng không được vượt quá lãi suất đầu tư của quỹ chủ hợp đồng không tham gia chia lãi trong năm tài chính liền kề trước đó cộng với 2%.”
b“Trường hợp quy tắc, điều kiện, điều khoản bảo hiểm có quy định cho phép bên mua bảo hiểm dừng đóng phí bảo hiểm và sử dụng giá trị hoàn lại để duy trì hiệu lực hợp đồng thì phải đảm bảo phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 37 Luật Kinh doanh bảo hiểm.”
c“Việc tạm ứng từ giá trị hoàn lại không áp dụng với sản phẩm liên kết đầu tư, hưu trí.”

Hai cách tính trần, tuỳ doanh nghiệp có công bố lãi suất tích luỹ hay không

Số chính thức bệnh viện công bố  Nguồn: Thông tư 67/2023/TT-BTC, điểm a khoản 4 Điều 12.

Trường hợpMốc để tính trần
Doanh nghiệp có công bố lãi suất tích luỹ cho khách hànglãi suất tích luỹ đã công bố, cộng 2%
Doanh nghiệp không công bố lãi suất tích luỹlãi suất đầu tư của quỹ chủ hợp đồng không tham gia chia lãi trong năm tài chính liền kề trước đó, cộng 2%

Con số 2% là khoảng cộng thêm, không phải lãi suất

Câu chữ ghi “không được vượt quá lãi suất tích lũy do doanh nghiệp bảo hiểm công bố cho khách hàng cộng với 2%”. Nghĩa là trần bằng một con số thả nổi cộng thêm hai điểm phần trăm. Lãi suất tích luỹ công bố là 5% thì trần là 7%. Đọc nhầm thành lãi tạm ứng bằng 2% là hiểu ngược hẳn.

Điểm a có hai vế, và vế thứ hai mới là chỗ hay bị bỏ qua

Vế đầu áp dụng khi doanh nghiệp có công bố lãi suất tích luỹ. Vế sau dành cho trường hợp không công bố, và khi đó mốc chuyển sang lãi suất đầu tư của quỹ chủ hợp đồng không tham gia chia lãi, lấy của năm tài chính liền kề trước đó. Hai mốc khác nhau, và người giữ hợp đồng cần biết hợp đồng của mình rơi vào vế nào.

Cả khoản này chỉ chạy khi hợp đồng có quy định việc tạm ứng

Câu mở đầu ghi rõ “Trường hợp quy tắc, điều kiện, điều khoản của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có quy định việc tạm ứng”. Không phải hợp đồng nhân thọ nào cũng cho tạm ứng. Trần lãi suất ở điểm a không tạo ra quyền tạm ứng, nó chỉ giới hạn cách tính lãi khi quyền đó đã có sẵn trong hợp đồng.

Hai nhóm sản phẩm bị loại thẳng khỏi cơ chế này

Điểm c ghi “không áp dụng với sản phẩm liên kết đầu tư, hưu trí”. Người giữ hợp đồng liên kết chung, liên kết đơn vị hoặc hưu trí không dùng được đường tạm ứng từ giá trị hoàn lại theo khoản này.

Dừng đóng phí để duy trì hợp đồng là chuyện khác, và đi theo điều luật khác

Điểm b tách riêng việc bên mua dừng đóng phí và dùng giá trị hoàn lại để giữ hợp đồng còn hiệu lực. Việc đó phải phù hợp với khoản 4 Điều 37 Luật Kinh doanh bảo hiểm, không phải với trần lãi suất ở điểm a. Hai cơ chế thường bị gộp làm một khi tư vấn nói nhanh.

Vì sao nên hỏi con số lãi suất tích luỹ trước khi tạm ứng

Trần lãi suất phụ thuộc hoàn toàn vào con số đó, và nó thay đổi theo từng năm. Không biết lãi suất tích luỹ hiện hành thì không kiểm được mức lãi doanh nghiệp đang tính có nằm trong trần hay không.

Ba việc nên làm trước khi rút tạm

Một, mở bộ quy tắc điều khoản và xác nhận hợp đồng có điều khoản tạm ứng từ giá trị hoàn lại hay không. Hai, hỏi doanh nghiệp bằng văn bản về lãi suất tích luỹ đang công bố, hoặc lãi suất đầu tư của quỹ chủ hợp đồng không tham gia chia lãi của năm tài chính liền kề trước nếu họ không công bố lãi suất tích luỹ. Ba, đối chiếu mức lãi ghi trên phiếu tạm ứng với con số vừa hỏi cộng thêm hai điểm phần trăm.

Những chỗ chúng tôi chưa có số chắc chắn

Câu hỏi thường gặp

Thông tư không đưa ra một con số cố định. Trần bằng lãi suất tích luỹ doanh nghiệp công bố cho khách hàng cộng với 2%. Nếu doanh nghiệp không công bố lãi suất tích luỹ thì mốc là lãi suất đầu tư của quỹ chủ hợp đồng không tham gia chia lãi trong năm tài chính liền kề trước đó, cộng 2%.
Điểm c khoản 4 Điều 12 ghi việc tạm ứng từ giá trị hoàn lại không áp dụng với sản phẩm liên kết đầu tư và hưu trí.
Không. Câu mở đầu khoản 4 chỉ áp dụng cho trường hợp quy tắc, điều kiện, điều khoản của hợp đồng có quy định việc tạm ứng.
Đó là cơ chế khác. Điểm b tách riêng và dẫn chiếu sang khoản 4 Điều 37 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Đọc tiếp

Vì sao bảo hiểm từ chối bồi thường?Bồi thườngBệnh có sẵn là gì?Hợp đồngMua bảo hiểm bao lâu mới được chi trả?Hợp đồngXem thêmhuy hop dong va lay lai duoc bao nhieuXem thêmdong phi tre va khoi phuc hop dongXem thêmthoi gian cho tung loai quyen loiSản phẩm và hợp đồngTrang tổng quan

Muốn biết trường hợp của bạn rơi vào đâu?

Nhắn cho chúng tôi tình huống cụ thể. Chúng tôi đọc hợp đồng và điều khoản rồi trả lời thẳng, không chào bán trong buổi đầu.